Bản tin tháng 02/2026 diễn biến tài nguyên nước tới Đồng bằng sông Cửu Long – VNMC
TTCP Nguyễn Xuân Phúc

Chúng ta hãy cùng nhau đoàn kết, hợp tác để sông Mê Công mãi là dòng chảy của hoà bình, là kết nối sinh tồn, bền vững, thịnh vượng, đến muôn đời các quốc gia, người dân trong khu vực.

Hội nghị cấp cao lần thứ 3 MRC
Siêm Riệp ngày 5.4.2018

Lịch
< Tháng 3 2026 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          

Chung nhan Tin Nhiem Mang

(Tin được truy cập lần thứ :5 Trong tổng số :609762 Lượt truy cập web)

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, Ủy hội sông Mê Công quốc tế và các tổ chức quốc tế, dự báo tổng lượng mưa trong tháng 02/2026 trên lưu vực sông Mê Công so với TBNN dao động trong khoảng từ thấp hơn 35% đến cao hơn 5 %, trong đó các khu vực bắc Thái Lan, đông bắc Thái Lan mưa ít, vùng châu thổ Mê Công và Nam Lào có khả năng mưa nhỏ với tổng lượng mưa thấp hơn hoặc xấp xỉ TBNN. Các hồ chứa trên sông lưu vực Lan Thương đang trữ nước ở mức cao, khoảng 85% tổng dung tích hữu ích, các hồ chứa ở Hạ lưu vực sông Mê Công cũng đang trữ nước ở mức khoảng 70% dung tích hữu ích và có khả năng điều tiết tương tự như giai đoạn hiện nay. Dòng chảy qua trạm Kra-chê tiếp tục giảm, dự báo tổng lượng dòng chảy qua trạm Kra-chê trong tháng 02/2026 biến động trong khoảng từ 9,5 tỷ m3 đến 12,1 tỷ m3, đồng thời lượng nước trữ ở Biển Hồ hiện tại là 9,5 tỷ m3 tiếp tục chảy ra đóng góp vào dòng chính sông Mê Công. Kết hợp các thông tin trên với dự báo thủy triều, tài nguyên nước tới Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 02/2026 được nhận định như sau:

Nhận định diễn biến dòng chảy tại Tân Châu

Mực nước lớn nhất ngày tại trạm Tân Châu trong tháng 02/2026 được nhận định sẽ biến động theo thủy triều trong khoảng từ 1,1m đến 1,7m (Xem hình dưới).

Hình Nhận định mực nước lớn nhất ngày tại trạm Tân Châu tháng 02/2026

Lưu lượng trung bình ngày qua trạm Tân Châu trong tháng 02/2026 được nhận định sẽ giảm từ 6.000 m3/s xuống đến 3.500 m3/s. Tổng lượng dòng chảy qua trạm Tân Châu trong tháng 02/2026 sẽ biến động trong khoảng 10 tỷ m3 đến 11,3 tỷ m3, cao hơn so với giá trị TBNN từ 4% đến 18% và cùng kỳ năm 2025 từ 35% đến 47% (Xem các hình dưới).

Hình Nhận định lưu lượng tới trạm Tân Châu tháng 02/2026

Hình Nhận định tổng lượng dòng chảy tại trạm Tân Châu tháng 02/2026

Nhận định diễn biến dòng chảy tại trạm Châu Đốc

Mực nước lớn nhất ngày tại trạm Châu Đốc trong tháng 02/2026 được nhận định là sẽ biến động trong khoảng từ 1,1 m đến 1,7 m (Xem hình dưới).

Hình Nhận định mực nước lớn nhất ngày tại trạm Châu Đốc tháng 02/2026

Lưu lượng trung bình ngày qua trạm Châu Đốc tháng 02/2026 biến động trong khoảng từ 410 m3/s đến khoảng 850 m3/s. Tổng lượng dòng chảy qua trạm Châu Đốc trong tháng 02/2026 sẽ ở mức từ 1,4 tỷ m3 đến 1,8 tỷ m3, biến động trong khoảng từ thấp hơn giá trị TBNN 5% đến cao hơn giá trị TBNN 17%, và cao hơn cùng kỳ năm 2025 từ 35% đến 49% (Xem các hình dưới).

Hình Nhận định lưu lượng tới trạm Châu Đốc tháng 02/2026

Hình Nhận định tổng lượng dòng chảy tại trạm Châu Đốc tháng 02/2026

Nhận định xâm nhập mặn

Chiều sâu xâm nhập mặn 1 g/l xâm nhập vào nội đồng sâu nhất trên 3 nhánh sông lớn như sau:

– Sông Tiền: Xâm nhập mặn có khả năng dao động từ  49 km đến 55 km, cao hơn từ 1 km đến 7 km so với TBNN và thấp hơn xâm nhập mặn cùng kỳ 2025 từ 1 km đến 7 km.

– Sông Hậu: Xâm nhập mặn có khả năng dao động từ 47 km đến 53 km, thấp hơn 3 km đến cao hơn 2 km so với TBNN, mức độ xâm nhập mặn thấp hơn từ 1 km đến 7 km so với năm cùng kỳ 2025.

– Sông Vàm Cỏ Tây: Xâm nhập mặn có khả năng dao động từ 72 km đến 78 km, thấp hơn 1 km đến cao hơn 5 km so với TBNN, thấp hơn 5 km đến cao hơn 1 km so cùng kỳ 2025 (Xem chi tiết ở Bảng 2, và Bản đồ 3 – Phụ lục kèm theo).

Chiều sâu xâm nhập mặn 4g/l xâm nhập vào nội đồng sâu nhất trên 3 nhánh sông lớn như sau:

– Sông Tiền: Xâm nhập mặn có khả năng dao động từ  38 km đến 44 km, cao hơn từ 1 km đến 7 km so với TBNN và thấp hơn xâm nhập mặn cùng kỳ 2025 từ 1 đến 9 km

– Sông Hậu: Xâm nhập mặn có khả năng dao động từ 43 km đến 49 km, thấp hơn 3 km đến cao hơn 5 km so với TBNN, mức độ xâm nhập mặn thấp hơn từ 1 km đến 7 km so với năm cùng kỳ 2025.

– Sông Vàm Cỏ Tây: Xâm nhập mặn có khả năng dao động từ 56 km đến 63 km, thấp hơn 3 km đến cao hơn 6 km so với TBNN, thấp hơn 3 km đến cao hơn 5 km so cùng kỳ 2025 (Xem chi tiết ở Bảng 3, và Bản đồ 4 – Phụ lục kèm theo).

 Theo như các phân tích ở trên, nền dòng chảy mùa khô năm 2026 tiếp tục suy giảm, các địa phương cần theo dõi chặt chẽ thông tin về diễn biến nguồn nước trên các sông, kênh để chủ động giữ nước ngọt phục vụ sản xuất tránh hiện tượng cạn kiệt cục bộ. Đồng thời, mặn sẽ xâm nhập mạnh hơn vào trong nội đồng. Do đó, các khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng mặn cần theo sát các thông tin giám sát mặn và các bản tin dự báo xâm nhập mặn để vận hành công trình ngăn mặn phù hợp bảo vệ sản xuất.

Bên cạnh đó, triều cường trong tháng 02/2026 dự báo ở mức khá cao, nguy cơ ngập tại khu vực thấp, trũng thuộc vùng ven biển ĐBSCL vẫn có khả năng xảy ra. Các địa phương cần chủ động theo dõi chặt chẽ các thông tin dự báo nguồn nước, khí tượng thủy văn để kịp thời xây dựng và điều chỉnh kế hoạch ứng phó phù hợp.