Lưu vực sông Cửu Long – VNMC
  • Tiếng Việt
  • English
  • TTCP Nguyễn Xuân Phúc

    Chúng ta hãy cùng nhau đoàn kết, hợp tác để sông Mê Công mãi là dòng chảy của hoà bình, là kết nối sinh tồn, bền vững, thịnh vượng, đến muôn đời các quốc gia, người dân trong khu vực.

    Hội nghị cấp cao lần thứ 3 MRC
    Siêm Riệp ngày 5.4.2018

    Lịch
    < Tháng Ba 2021 >
    T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
    1 2 3 4 5 6 7
    8 9 10 11 12 13 14
    15 16 17 18 19 20 21
    22 23 24 25 26 27 28
    29 30 31        
    Thời tiết hôm nay
    Weather Icon
    Weather Icon
    Weather Icon
    Weather Icon
    Weather Icon
    Weather Icon
    Lưu vực sông Cửu Long
    1. Vị trí

    Lưu vực sông Cửu Long là phần cuối cùng của châu thổ Mê Công, giới hạn bởi biên giới Việt Nam-Campuchia ở phía Bắc, Biển Tây ở phía Tây, Biển Đông ở phía Đồng, và sông Vàm Cỏ Đông và Thành phố Hồ Chí Minh ở phía Đông-Bắc. Lưu vực này, bao gồm địa phận 13 tỉnh/thành là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, TP.Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau, có tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 66% diện tích toàn châu thổ và bằng 5% diện tích lưu vực sông Mê Công.

    1. Hệ thống sông suối

    Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi, kênh rạch tự nhiên và kênh đào dày đặc.

    Sông Tiền và sông Hậu:  Hai dòng chính sông Tiền và sông Hậu chi phối mạnh mẽ sự phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long. Sông Tiền đóng vai trò quan trọng ngay sau khi phân lưu từ dòng chính Mekong tại Phnom Penh và chiếm một tổng lượng nước lớn hơn rất nhiều (tới 86%). Sau khi qua Vàm Nao, hai sông đã tạo lập được cân bằng về phân chia tổng lượng nước dòng chính sông Cửu Long (49%/51%). Sau Mỹ Thuận, sông Tiền bị phân chia theo các phân lưu lớn là sông Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu. Sông Hậu trước khi đổ ra biển khoảng 30 km bị chia thành ba nhánh là Định An, Cồn Tròn và Trần Đề, sau đó chảy qua hai cửa Định An và Trần Đề.

    Hệ thống sông Vàm Cỏ: Hệ thống sông Vàm Cỏ bao gồm 2 nhánh sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây, đều bắt nguồn từ Campuchia, chảy qua khu vực phía Đông ĐBSCL, đến Cầu Nổi thì nhập lại để cùng nhập vào sông Đồng Nai (sông Nhà Bè) trước khi ra biển qua cửa Cần Giờ. Sông Vàm Cỏ Đông có nguồn sinh thủy độc lập, gắn với miền Đông Nam bộ, sông Vàm Cỏ Tây gắn liền với Đồng bằng sông Cửu Long khi nhận nước từ dòng chính sông Mekong chuyển sang trong cả mùa lũ lẫn mùa kiệt.

    Hệ thống sông Cái Lớn-Cái Bé: Hệ thống sông Cái Lớn-Cái Bé hoàn toàn là các sông vùng triều, xuất phát từ trung tâm Bán đảo Cà Mau và đổ ra biển qua cửa Cái Lớn. Do nối với sông Hậu bởi nhiều kênh đào lớn nên chế độ dòng chảy của Cái Lớn-Cái Bé cũng chịu ảnh hưởng chế độ dòng chảy từ sông Hậu.

    Sông Giang Thành: Giang Thành có nguồn một sông nhỏ xuất phát từ vùng núi phía Tây-Nam Campuchia, sau đó chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia và đổ ra biển qua đầm Đồng Hồ tại thị xã Hà Tiên.

    Các sông nhánh khác: Dọc theo sông Tiền và sông Hậu còn có rất nhiều sông rạch lớn nhỏ nối với nội đồng, tuy ít nhiều đã bị biến dạng và dần mất đi tính tự nhiên do hoạt động của con người, nhưng vẫn còn mang những nét thiên nhiên vốn có, như rạch Hồng Ngự, rạch Cần Lố, rạch Ruộng… (TST), rạch Cả Nai, sông Măng Thít, rạch Cần Chông… (GSTSH), sông Ô Môn, sông Cần Thơ… Đặc điểm các sông rạch này là có cửa vào lớn, sâu nhưng thu hẹp rất nhanh khi vào nội đồng. Dọc biên giới Việt Nam-Campuchia cũng có một số sông rạch chảy vào Đồng bằng sông Cửu Long, như sông Châu Đốc, sông Sở Thượng-Sở Hạ…

    Hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long: Được phát triển chủ yếu trong vòng hơn 1 thế kỷ nay, với mục đích chính là phát triển nông nghiệp và giao thông thủy. Đến nay, hệ thống kênh đào đã được đan dày ở cả 3 cấp là kênh trục/kênh cấp I, kênh cấp II và kênh cấp III/nội đồng. Hệ thống kênh trục phát triển nối sông Hậu với biển Tây (Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau), sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây (TST) và sông Tiền với sông Hậu (GSTSH), đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn nước trực tiếp từ sông chính vào đồng. Hệ thống kênh cấp II được mở rộng trên nhiều vùng ở Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là các vùng thâm canh lúa dọc sông Tiền và Hậu, nối các kênh trục với nhau, có nhiệm vụ phân phối nước tưới và tiêu nước thừa cho từng khu vực trong nội đồng. Kênh cấp III (hay còn gọi là kênh nội đồng) là cấp kênh nhỏ nhất nhưng lại rất quan trọng, vì đây là hệ thống kênh trực tiếp dẫn nước tưới đến và tiêu nước thừa đi cho từng thửa ruộng. Các cấp kênh trên đây hợp thành một hệ thống kênh mương khá dày, với mật độ 8-10 m/ha.

    1. Tài nguyên nước

    Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có lượng mưa trung bình khoảng 1.600-1.800 mm, ven biển Tây có lượng mưa cao hơn (2.000-2.400 mm) và ven biển Đông có lượng mưa thấp hơn (1.400-1.600 mm). Lượng mưa năm có xu hướng tăng dần từ thấp đến cao và theo thời gian cũng có nhiều biến đổi. Mưa được phân thành 2 mùa: mùa mưa từ tháng V đến tháng X, mùa khô từ tháng XI đến tháng IV năm sau.

    Tháng VIII-X là các tháng có lượng mưa lớn nhất trong năm, thường đạt từ 250-300 mm mỗi tháng. Tháng I-III là các tháng có lượng mưa ít nhất trong năm, thường là không mưa hoặc mưa không đáng kể. Số ngày mưa trong năm đạt từ 100-140 ngày mưa, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, với 15-20 ngày mỗi tháng. Lượng mưa trung bình mùa mưa chiếm khoảng 90-92% tổng lượng mưa năm, còn lượng mưa trung bình mùa khô chỉ có 8-10%

    1. Tài nguyên nước mặt

    Đồng bằng sông Cửu Long lấy nước ngọt từ sông Mê Công và nước mưa. Cả hai nguồn này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt. Trong những năm gần đây, lượng nước bình quân của sông Mê Công chảy vào Đồng bằng sông Cửu Long hằng năm đạt khoảng 410 tỷ m3 và tổng lượng chảy ra biển hằng năm là 425 tỷ m3.  Khoảng 17% tổng lưu lượng nước chảy qua sông Hậu tại Châu Đốc và 83% qua sông Tiền tại Tân Châu. Càng về phía hạ lưu, phân bổ lượng nước này càng tiến gần đến tỷ lệ phân đều do nước từ sông Tiền chảy vào sông Hậu qua nhánh Vàm Nao.

    Với một hệ thống sông kênh rạch lớn nhỏ đan xen, nên rất thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm. Về mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, sông Mê Công là nguồn nước mặt duy nhất. Về mùa lũ, thường xảy ra vào tháng 9, nước sông lớn gây ngập lụt. Phân chia tổng lượng mùa với khoảng 25% tổng lượng dòng chảy trong mùa khô và 75% tổng lượng dòng chảy trong mùa mưa.

    Chế độ thuỷ văn của Đồng bằng sông Cửu Long có 3 đặc điểm nổi bật là: (1) Nước ngọt và lũ lụt vào mùa mưa chuyển tải phù sa, phù du, ấu trùng; (2) Xâm nhập mặn vào mùa khô ở vùng ven biển; (3) Xuất hiện nước chua phèn vào mùa mưa ở vùng đất phèn.

    Chất lượng nước mặt trên dòng chính sông Mê Công được đánh giá theo chỉ số Chất lượng nước (WQI) (Theo Quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường) phần lớn ở mức 90-100 cho vùng nước ngọt: có thể sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt. Tuy nhiên có một số vị trí như khu vực Nước chua phèn vào mùa mưa ở vùng đất phèn, hay vùng nước lợ thì chỉ số WQI chỉ đạt 60-80: có thể sử dụng cho sinh hoạt sau khi xử lý. Ngoài ra có một số khu vực vùng nước mặn ven biển thì hầu như không thể sử dụng nguồn nước mặt cho sinh hoạt hay tưới tiêu.

    1. Tài nguyên nước dưới đất

    Kết quả điều tra bổ sung và biên tập bản đồ gần đây ở tỷ lệ 1:200.000 đã tính toán được trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất nhạt toàn vùng khoảng 22,5 triệu m3/ngày, trong đó, trữ lượng có thể khai thác an toàn khoảng 4,5 triệu m3/ngày. Hiện nay mức độ khai thác trên lưu vực đang đạt khoảng 1,9 triệu m3/ngày, đạt khoảng 42%.

    Chất lượng nước dưới đất theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước dưới đất là khá tốt. Hầu hết đáp ứng được các chỉ tiêu của Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) cho các mục đích sử dụng cho sinh hoạt và tưới.

    1. Sử dụng nước

    Lúa là cây trồng chính chiếm khoảng 93% so với tổng diện tích đất cây hàng năm. Tổng diện tích gieo trồng lúa hàng năm khoảng 4,2 triệu ha, trong đó vụ Đông Xuân là 1,6 triệu ha (chiếm 38%); vụ Hè Thu: 1,7 triệu ha (chiếm 40%); vụ Thu Đông là 0,7 triệu ha (chiếm 17%) và vụ Mùa: 0,2 triệu ha (chiếm 5%). Tổng nhu cầu nước cho ngành nông nghiệp ước tính khoảng 17,91 tỷ m3

    Tổng đàn gia cầm chăn nuôi hàng năm dao động trong khoảng 80-81 triệu con, tổng nhu cầu nước cho ngành chăn nuôi ước tính khoảng 0,45 tỷ m3

    Với dân số khoảng 17,3 triệu người, tổng nhu cầu nước cho sinh hoạt ước tính khoảng 0,58 tỷ m3

    Hiện toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 53.000 doanh nghiệp; 78 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động, bao gồm 50 khu công nghiệp và 28 khu chế xuất, tổng nhu cầu nước cho công nghiệp ước tính khoảng 5,93 tỷ m3

    Nuôi trồng thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian qua đã có sự tăng trưởng cả về diện tích, sản lượng; từng bước phát triển thành một nghề sản xuất quy mô hàng hóa, có tính cạnh tranh cao, trong đó diện tích nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ dao động ở mức 691 ngàn ha và diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt là 106 ngàn ha tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản hàng năm, tổng nhu cầu nước cho thủy sản ước tính khoảng 21,06 tỷ m3

    1. Dân số

    Qua kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy, Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 17,3 triệu người, tăng 1 triệu người so với năm 2009, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi ở ĐBSCL chiếm 22% và nhóm dân số từ 65 tuổi trở chiếm 8,4%. Điều này có nghĩa là ĐBSCL đang trong thời kỳ dân số vàng

    1. Kinh tế

    Năm 2019, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đóng góp trên 12% cho GDP cả nước. Riêng nông nghiệp của vùng chiếm 34,6% GDP toàn ngành nông nghiệp, đóng góp 54% sản lượng lúa, 70% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 60% lượng trái cây của cả nước. GDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 51,3 triệu đồng, thấp hơn 18% so với trung bình cả nước là 62,7 triệu đồng.

    Do bản chất thuần nông của nền kinh tế vùng, tỷ trọng của các ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong cơ cấu GDP ở mức cao 31,5%. Ngành công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm dưới 25,3% GRDP của Đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2019. Ngành dịch vụ chiếm 41,2% GDP của ĐSBCL, tương đương với mức bình quân cả nước.

    Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 7,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (18,8 tỷ USD) và 3,6% tổng kim ngạch nhập khẩu (8,5 tỷ USD) của Việt Nam

    1. Thách thức đối với Đồng bằng sông Cửu Long

    Nằm ở cuối nguồn sông Mê Công, nguồn tài nguyên nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngoài vấn đề hiện đang phải chịu những tác động bất lợi nghiêm trọng từ các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên nước ở thượng nguồn, còn chịu thêm tác động kép của phát triển nội tại và nước biển dâng, cụ thể như sau:

    Phụ thuộc vào nguồn nước đến và chịu tác động bất lợi từ hoạt động phát triển, sử dụng nước từ phía thượng nguồn, với gần 95% dòng chảy sông Mê Công đến từ nước ngoài, nguồn tài nguyên nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long được coi là dễ bị tổn thương và rất nhạy cảm trước các biến động từ thượng lưu.

    Trước tình hình các quốc gia thượng nguồn gia tăng các hoạt động khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước sông Mê Công để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của mình và các dấu hiệu ngày càng rõ nét của hiện tượng biến đổi khí hậu bao gồm cả nước biển dâng, Việt Nam đang phải chứng kiến các biến động bất thường của chế độ dòng chảy, sự suy giảm nhanh chóng lượng phù sa bùn cát và nguồn dinh dưỡng về vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Các biến động này ngày càng khó lường với tần suất ngày càng lớn, đã gây ra nhiều tác động bất lợi nghiêm trọng trên vùng Đồng bằng sông Cửu Long như các diễn biến cực đoan của lũ và hạn, gia tăng hiện tượng xâm nhập mặn, suy giảm môi trường sinh thái và nguồn lợi thủy sinh/thủy sản, gia tăng hiện tượng sạt lở lòng bờ sông/bờ biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động kinh tế liên quan đến tài nguyên nước, và đe dọa đời sống của hàng triệu người dân, trong đó đa số là người dân nghèo, đang hàng ngày phụ thuộc vào nguồn tài nguyên nước và các tài nguyên có liên quan của sông Mê Công.

    Nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích canh tác trên 2,9 triệu ha với nguồn nước tưới chủ yếu lấy từ sông Mê Công và nước trời do mưa. Hiện nay nhu cầu sử dụng nước tưới ngày càng gia tăng do phát triển tăng vụ trong trồng trọt (lúa Đông – Xuân, lúa Hè – Thu), và nuôi trồng thủy sản nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ lương thực trong nước và xuất khẩu. Chính vì vậy, nhu cầu nước tưới sẽ tăng từ 17,8 tỷ m3 (năm 2019) lên 18,9 tỷ m3 vào năm 2030 (tăng gần 8%). Ngoài nhu cầu sử dụng nước cho mục đích tưới và nuôi trồng thủy sản, nguồn nước của sông Mê Công cũng được sử dụng cho các mục đích khác như sinh hoạt, phát triển công nghiệp và đô thị.

    Khai thác nước ngầm quá mức, Đồng bằng sông Cửu Long có lượng nước dưới đất với tiềm năng khai thác được khoảng 22 triệu m³/ngày. Hiện nay khu vực này có hàng chục ngàn giếng khai thác nước ngầm với quy mô và chiều sâu khác nhau để sử dụng cho mục đích nước sinh hoạt và sản xuất. Nước ngầm đã và đang bị khai thác quá mức dẫn đến suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Theo số liệu quan trắc, mực nước ngầm tại các đô thị bị suy giảm trung bình hàng năm khoảng 0,4 – 0,6m và tính đến năm 2015, mực nước ngầm đã bị tụt giảm khoảng 15m. Đây cũng là nguyên nhân chính khiến Đồng bằng sông Cửu Long bị lún với tốc độ từ 1 – 3 cm/năm, kéo theo mực nước biển dâng thực tế ngày càng nhanh hơn.

    Thiên tai và biến đổi khí hậu đang đe dọa tài nguyên nước: Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là một trong ba đồng bằng lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến cán cân nguồn nước, làm cho tình trạng phân bố nguồn nước không đồng đều giữa mùa khô và mùa mưa ngày càng thêm trầm trọng. Hậu quả là lũ lụt và hạn hán xuất hiện với tần suất và mức độ khốc liệt ngày càng tăng. Lũ lớn và hạn hán gây thiệt hại về nhân mạng và tài sản, làm sạt đất, xói bờ, xâm thực ven biển và mặn ngày càng xâm nhập vào sâu.

    1. Nhận định chung

    Trước việc các nước thượng lưu sẽ ngày càng tăng cường khai thác nguồn nước sông Mê Công phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của mình, Việt Nam nằm ở cuối nguồn sẽ phải chịu tác động có tính nguy cơ sống còn về đất đai ngập mặn tại ĐBSCL, về môi trường sinh thái, lũ lụt, v.v…Tác động của việc khai thác sử dụng nước thượng nguồn, phát triển thủy điện hay các công trình thuỷ lợi (có thể làm đổi hướng dòng chảy trong mùa lũ) là một quá trình “động”, là một thách thức ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam

    Về mặt số lượng nước, tuy vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nguồn tài nguyên nước dồi dào, nhưng nguồn nước mặt này dễ bị tổn thương trước những thay đổi phía thượng lưu. Nhất là trong bối cảnh hiện nay chưa thể biết rõ và cụ thể lượng nước đến các quốc gia thượng lưu trong lưu vực trong trung và dài hạn cả về số lượng và chất lượng. Đây có thể nói là một rủi ro lớn cho cấp nước và an ninh kinh tế xã hội trung và dài hạn đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

    Do vậy, phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần hài hòa 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Để có thể giữ gìn chất lượng môi trường, việc phát triển kinh tế xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải quyết định dựa trên cơ sở khoa học và nhận thức về vai trò tối quan trọng của nguồn nước đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long